Cớ sao họ lại đuổi cùng giiết tận nước mắm truyền thống?

Loading...

Cách đây 2 năm, truyền thông tung tin “Nước mắm truyền thống nhiiễm thhạch tín” làm người tiêu dùng hoang manng, và các cơ sở sản xuất nước mắm truyền thống phải 1 phen lao đao.  Trong khi sự thật, thhạch tín ở dưới dạng cơ kim trong cá (arsenobetaine) là chất vô hại, vốn đã có mặt trong nước mắm bao đời nay; chỉ có thạch tín dưới dạng vô cơ mới là chất cựuc độic, là loại mà người ta dùng để đầu độic kẻ thhù như thường thấy trong phim cổ trang, và 2 loại thhạch tín này khác nhau hoàn toàn. Hồi đó thấy người ta chơi không đẹp, mình cũng bức xúc mà viết 1 bài. Cuối cùng thì nước mắm truyền thống cũng được minh oan, thoát được 1 kiiếp nạin. Những tưởng được yên thân, nhưng không, đợt tấn cônng lần này còn bài bản hơn, mượn tay cơ quan công quyền, khoác lên tấm áo mĩ miều “bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng”, để bức tuử nước mắm truyền thống. Xưa nay, ông bà mình đã dạy, miệng nhà quan có gang có thép mà.

Trước khi bàn những chuyện khác, phải khẳng định rằng, từ cổ chí kim, chưa có bất kỳ bằng chứng khoa học nào cho thấy sử dụng nước mắm truyền thống sẽ có nguuy cơ mắc unng thư hay những bệnnh nguuy hiiểm khác.

Ngược lại, với các hóa chhất, kể cả loại cho phép dùng trong thực phẩm, nhà sản xuất hóa chhất bắt buộc phải luôn khuyến cáo những nguy cơ đi kèm, và tất cả thông tin phải được thể hiện rất minh bạch và chi tiết trong MSDS.

Một vấn đề khá quan trọng, với những hóa chhất dùng trong ngành dược hoặc thực phẩm, là dù cho hóa chhất X nào đó ở dạng tinh khiết 100% có an toàn tuyệt đối đi chăng nữa, thì nhất định cần phải làm rõ ở từng trường hợp, các tạp chất lẫn vào X có tạp chất nào gây unng thhư không, có tạp chất nào gây ra những bệnh nguy hiểm khác không. Độ tinh khiết 99% không có nghĩa là an toàn, taai họia đang rình rập ở 1% còn lại đó, cơin áic mộnng diooxin – vốn chỉ là 1 ít tạp chất lẫn vào thuốc diiệt coỏ vẫn còn ngay trước mắt. Cũng cần phải nói thêm 1 chuyện nữa, dù X được cho là an toàn ở mức a nào đó, nhưng nếu 1 người sử dụng/nhiiễm X dưới mức a năm này qua tháng nọ, sau mấy chục năm, chuyện gì xảy ra cho người đó, chưa ai biết. Ví dụ với phennol, hồi 1984, TDI (tolerable daily intake) được quy định cho phennol là 1.5 mg/kg bw/day, nhưng chưa đầy 20 năm sau, thấy không ổn, EFSA phải vội vàng giảm cái mức này xuống còn 0.5 mg/kg bw/day.

“Bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng” ư, rất tốt? Tuy nhiên, trước khi soạn thảo bộ tiêu chuẩn về nước mắm, nhất định phải tổ chức các hội thảo khoa học 1 cách nghiêm túc. Trong các hội thảo, bên cạnh “khách quen” của ban tổ chức, nhất định phải mời ít nhất là những nhà khoa học thuộc các chuyên ngành: (1) CN thực phẩm, (2) CN chế biến thủy hải sản, (3) Hóa phân tích, (4) KH sức khỏe, mà phải đến từ nhiều đơn vị khác nhau mới khách quan; và không thể vắng mặt những nghệ nhân làm nước mắm truyền thống. Nhà KH muốn đề xuất 1 con số nào đó trong bộ tiêu chuẩn này cũng phải dựa trên bằng chứng KH.

Trên báo Tuổi trẻ ngày 10/3, ông Phó Cục trưởng bảo “đã tổ chức nhiều cuộc hội nghị hội thảo rồi”. Những ai đã từng tổ chức hội thảo hội nghị hay thậm chí tổ chức các hội đồng gồm chuyên gia để đánh giá, đều quá hiểu rằng, mình muốn kết quả sau cùng là thế nào, thì mời thành phần tham dự theo thế ấy, “đúng quy trình” hết.

Có quá nhiều điểm bất hợp lý trong bản dự thảo bộ tiêu chuẩn nước mắm mà nhiều chuyên gia và báo chí đã lên tiếng, mình không cần nhắc lại nữa. Mình muốn nói thêm, mọi chuyện không đơn giản là chỉ cần dựa vào những con số vô hồn trong 1 bộ tiêu chuẩn của ai đó, sau đó biến thành tiêu chuẩn của mình là xong. Ví dụ như tiêu chuẩn về arsen, bộ tiêu chuẩn quy định 1 con số, nhưng thử hỏi trong bộ tiêu chuẩn có nói rõ làm sao để phân biệt arrsen nào là arsen vô cơ (độic haại), arrsen nào là arrsen cơ kim (không độic haại) không, nếu không phân biệt được arrsen nào là arrsen nào, thì giải quyết thế nào đây. Hay tiêu chuẩn về một kiim loại nặng nào đó chẳng hạn, nếu chẳng may nước mắm có nhiiễm kiim loại nặng, thì cần xem có phải do vùng biển cung cấp cá để làm nước mắm bị ô nhiiễm bởi nước thhải độic haại từ các khu công nghiệp hay không, và xử lý chuyện này không đơn giản chỉ là ban hành 1 bộ tiêu chuẩn. Không đơn giản.

Nghĩ cũng lạ, nước mắm truyền thống làm từ cá biển, vậy mà dự thảo này lại yêu cầu đem nước mắm đi kiểm tra dư lượng thuốc trrừ sâiu, thuốc thú y, các loại khánng sinh. Nếu cơ quan công quyền thật sự có tâm muốn “bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng” khỏi bị ảnh hưởng bởi dư lượng thuốc trrừ sâau, thì việc cần làm ngay không phải là tiêu chuẩn cho nước mắm, mà là tìm giải pháp cho hàng loạt rau củ, trái cây đã và đang nhiiễm thhuốc trrừ sâau kia kìa. Tương tự như vậy, nếu biết lo sợ dư lượng thhuốc thú y hay kháng sinh có ảnh hưởng đến sức khhỏe người dân, thì việc khhẩn cấp trước mắt là lo cho thịt heo thịt bò khỏi bị nhiiễm hóia chất kia kìa. Người dân ăn rau củ trái cây mỗi ngày, ăn thịit cũng thường xuyên, và ăn với lượng lớn mới đáng ngại; còn nước mắm thì chỉ dùng 1 lượng nhỏ làm gia vị nêm nếm hay nước chấm, chứ có ai uống nước mắm thay cơm mỗi ngày đâu mà phải khẩn cấp ban hành tiêu chuẩn bất chấp cả khoa học như vậy.

Chuyện sống hay chhết của nước mắm truyền thống không chỉ liên quan đến mỗi nước mắm thôi đâu. Nếu một mai chẳng may nước mắm truyền thống bị bứic tuử, ngư dân mình nản lòng mà bỏ biển, nếu chỉ còn trơ trọi lính hải quân cô đơn giữa muôn trùng biển khơi thôi thì có đủ sức giữ toàn vẹn biển đảo cho nước Việt này không. Đừng ai nói với mình là nếu không còn ngư dân đánh cá về làm nước mắm thì vẫn còn ngư dân khác nhé. Mỗi 1 ngư dân, mỗi 1 con thuyền ra khơi đánh cá là 1 cột mốc biên cương trên biển, phải trân trọng họ và làm mọi cách để họ bám biển, 1 người ra khơi thì trân trọng 1 người, 100 người ra khơi thì phải trân trọng cho đủ 100 người, 1000 người ra khơi thì cũng phải trân trọng cho đủ 1000 người, và để chung tay bảo vệ toàn vẹn biển đảo thì chưa bao giờ là đủ. Nếu vì lý do gì đó, ngư dân mình nản lòng mà bỏ biển, chắc chắn trăm năm sau biển này là biển của bạn Vàng, đừng ai và đừng bao giờ quên điều đó.

Khi viết những dòng chữ này, mình lại nhớ đến cảnh Vua Hàm Nghi khắc khoải dặn dò người ở lại trước khi lên thuyền đi lưu đày trong vở Thầy Ba Đợi, là những gì ông bà mình để lại, ráng giữ được nhiều chừng nào hay chừng đó. Đó cũng là nỗi khắc khoải chung của những con người yêu nước khi quê hương đang bị ngoại bang tàin phhá. Mấy trăm năm sau, vì cớ gì mà con cháu của các ngài phải quá vất vả để giữ gìn những di sản quý giá mà ông bà tổ tiên để lại cho đời sau như vậy?

Nam Phan

Loading...